NGÔI NHÀ THỜ VỚI CHIẾC GUỒNG NƯỚC

The Church with an Overshot-Wheel

1920

by O. Henry

https://americanliterature.com/author/o-henry/short-story/the-church-with-an-overshot-wheel
NGUYỄN ĐẠI HOÀNG & PHÙNG HOÀI NGỌC dịch và chú giải
*********************************************************
Truyện ngắn The Church with an Overshot- Wheel là một truyện ngắn đặc biệt và đặc sắc của O. Henry. Đặc biệt không chỉ vì nó gần giống một chuyện cổ tích, với một cái kết có hậu như một truyện thần tiên, cũng không phải bởi những đoạn văn tả cảnh hiếm hoi, cũng không hẳn vì văn phong, bút pháp khác hẳn những truyện ngắn khác của nhà văn, mà theo chúng tôi, sự khác biệt đến từ sự tổng hợp những điều về kể trên. Bản thân chúng tôi tiếp cận tác phẩm này từ những năm 2000, tức là hơn 80 năm sau từ khi truyện ngắn này được phát hành (1920). Cuối năm 2008, bản dịch đầu tiên ra đời, nhưng mãi đến cuối tháng 3 năm 2019, tức hơn 10 năm sau, chúng tôi mới có một bản dịch mới nhan đề NGÔI NHÀ THỜ VỚI CHIẾC GUỒNG NƯỚC xin giới thiệu sau đây cùng quý vị độc giả. (Phần lý giải vì sao thời gian chỉnh lý bản dịch lại dài đến thế, đó lại là một câu chuyện khác, rất thú vị, sẽ giới thiệu cùng quý vị trong một dịp khác). Trân trọng.
Những người dịch
*********************************************
       Lakelands không thuộc danh mục các khu nghỉ mát mùa hè sang trọng- nằm trên một doi núi của rặng Cumberland, ven một nhánh sông của dòng Clinch River. Lakelands thực sự là một ngôi làng đúng nghĩa, dù chỉ có vỏn vẹn hơn hai mươi nóc gia, nằm dọc theo một tuyến đường sắt khổ hẹp lẻ loi. Người ta tự hỏi không biết đường sắt bị lạc giữa những cánh rừng thông, nên chạy vào làng Lakelands, để tránh nỗi cô đơn sợ hãi, hay ngôi làng này bị lạc nên co cụm về bên đường sắt ngóng đợi những chuyến tàu đem Lakelands về quê hương. Và người ta cũng tự hỏi vì sao lại có cái tên Lakelands- Đất Hồ. Bởi hồ thì chẳng có, đất thì chẳng đáng, vì quá xấu.
      Cách làng nửa dặm có một nơi gọi là Eagle House do ông Josiah Rankin điều hành, đó là một khu nhà nghỉ cũ kỹ rộng lớn cho du khách yêu thích không khí miền núi thuê với giá rẻ. Eagle House được quản lý tệ, nhưng tệ một cách thú vị. Khu nhà đầy những sửa chữa tôn tạo theo phong cách cổ điển, thay vì những cải tiến hiện đại, nói chung việc bày biện, sắp đặt ở đây khá luộm thuộm, nhưng lại thoải mái dễ chịu y như nhà riêng của bạn vậy.Và bù lại, ở đây phòng ốc tinh tươm sạch sẽ, thức ăn đầy ắp ngon lành, những điều tốt đẹp còn lại thì do chính bạn và những cánh rừng thông bổ sung vào.Thiên nhiên ban cho vùng này một suối nước khoáng, những xích đu bằng dây nho, và môn Croquet- bóng cửa- mà cả đến cả những cánh cửa xép cũng được làm bằng gỗ. Chúng ta cũng nên cám ơn Nghệ Thuật, vì một tuần hai lần chúng ta được thưởng thức song tấu vĩ cầm - ghi ta, ở cuộc khiêu vũ tổ chức tại một sảnh đường mộc mạc.
       Khách quen của Eagle House là những người tìm đến giải trí như một nhu cầu, và cũng là một lạc thú. Họ là những người bận rộn, những người có thể ví như một chiếc đồng hồ chỉ cần lên dây cót trong hai tuần là đảm bảo chạy tốt cả năm.
       Bạn sẽ gặp ở đây những sinh viên từ những thị trấn miệt dưới lên, có khi là một nghệ sĩ, hoặc là một nhà địa chất mải mê tìm hiểu các địa tầng cổ của những ngọn đồi. Một vài gia đình lặng lẽ nghỉ hè ở đó; và cũng thường thấy một hai thành viên quen thuộc của hội phụ nữ chăm sóc y khoa từ thiện, mà người làng Lakelands gọi là " những bà giáo”.
       Cách Eagle House một phần tư dặm là nơi được giới thiệu là điểm tham quan- in trong những tờ bướm mà nhà nghỉ Eagle phát cho khách trọ. Đây là một nhà máy xay rất xưa, mà nay không còn là nhà máy nữa. Và theo như lời ông Josiah Rankin nói, thì đây là một nhà thờ duy nhất ở Hoa Kỳ có chiếc guồng nước máy xay, và cũng là nhà máy xay duy nhất trên thế giới có những hàng ghế dài và đàn organ. Khách trọ ở Eagle House đi lễ ngày thứ Bảy, được nghe đức cha ví von con chiên thuần thành với thứ bột thô, còn phải đem nghiền giữa hai thớt đá của khổ đau và kinh nghiệm, mới ra sản phẩm hữu ích cho đời. 
      Hằng năm cứ vào đầu thu, trong số du khách đến Eagle House nghỉ có ông Abram Strong- là vị khách luôn được tôn kính và yêu mến. Ở Lakelands, người ta gọi ông là Cha Abram, do mái đầu bạc trắng, khuôn mặt hồng hào, cương nghị và nhân hậu, tiếng cười cởi mở tươi vui, vận trang phục đen, chiếc mũ rộng vành, trông giống một đức cha. Ngay cả những vị khách trọ mới đến, chỉ sau ba bốn ngày làm quen cũng gọi ông với danh xưng thân thuộc đó.
      Cha Abram đã vượt một chặng đường xa để đến Lakelands. Ông sống trong một đô thị lớn, ồn ào náo nhiệt, ở vùng Tây Bắc, nơi ông làm chủ nhiều nhà máy xay, không phải loại nhà máy nhỏ với ghế dài và đàn organ, mà là những nhà máy cao như núi, xấu xí và to lớn đến nỗi những đoàn tàu hàng chạy quanh mỗi ngày trông cứ như những con kiến bò quanh tổ vậy. Và bây giờ, bạn hãy nghe kể về Cha Abram và nhà máy xay, mà nay là nhà thờ, bởi những câu chuyện này nối tiếp với nhau.
      Vào thời mà nhà thờ còn là nhà máy xay, thì ông Strong là chủ nhà máy. Thuở đó, không có ông chủ nhà máy xay nào lại vui vẻ, bụi bặm, bận rộn và hạnh phúc hơn ông. Ông sống trong một ngôi nhà nhỏ, phía bên kia nhà máy.Tay chân ông thô tháp nặng nề, nhưng tiền công xay lúa mì ông lấy rất nhẹ, nên những người miền núi vẫn cố vượt qua những dặm dài mệt mỏi trên những con đường đá núi để đem lúa mì đến chỗ ông. 
Niềm vui trong đời của ông chủ nhà máy là Aglaia-cô con gái bé bỏng của ông. Đó thực sự là một cái tên quá lộng lẫy quá sang trọng đối với một đứa bé tóc hoe vàng ở tuổi mới biết đi chập chửng, nhưng những người miền núi lại yêu thích những cái tên nghe kêu và trang trọng thế đó. Người mẹ thấy cái tên này trong một cuốn sách, và đem đặt cho con mình. Ngay từ bé, Aglaia đã không chịu người ta gọi Aglaia như bình thường, mà khăng khăng tự gọi mình là “Dums”.
      Ông chủ nhà máy xay và bà vợ thường dỗ dành Aglaia để dò hỏi về nguồn gốc của cái tên Dums bí ẩn này, nhưng không có kết quả. Cuối cùng họ đã đi đến một cách giải thích: Nguyên là trong khu vườn nhỏ phía sau ngôi nhà của họ, có trồng một luống hoa đỗ quyên- Rhododendrons- mà con bé đặc biệt yêu thích. Có thể là con bé cảm nhận được cái tên Dums có một mối quan hệ họ hàng nào đó với cái tên tuyệt vời của loài hoa con bé ưa thích.
      Khi lên bốn tuổi, Aglaia cùng người cha thường có một màn buổi biểu diễn nho nhỏ trong nhà máy vào mỗi buổi chiều, và điều đó cứ diễn ra như thế, nếu thời tiết cho phép. Khi bữa ăn tối đã sẵn sàng, bà mẹ sẽ chải tóc cho bé, đeo tạp dề sạch cho bé, và bảo bé qua nhà máy để đón cha về nhà. Khi ông chủ nhà máy xay thấy bé đến cửa nhà máy, ông bước ra, cả người trắng toát vì bột, vẫy tay với con và hát một bài ca xưa của thợ xay như sau:
Guồng nước quay quay
Lúa mì ta xay
Bụi trắng cả người
Vẫn hát suốt ngày
Việc nhẹ như chơi
Người thân yêu ơi …
       Rồi Aglaia sẽ chạy đến cười và nói:
     - Cha, cha, đem Dums về nhà- ông chủ nhà máy sẽ đặt bé lên vai, tiến về nhà ăn tối, và lại hát bài ca người thợ xay. Mỗi buổi tối đều diễn ra như thế.
      Đến một ngày, chỉ một tuần sau sinh nhật lần thứ tư của bé, Aglaia bỗng nhiên biến mất. Lần cuối cùng người ta nhìn thấy bé đang hái những bông hoa dại bên vệ đường trước mặt ngôi nhà. Một lát sau, mẹ bé chạy ra ngoài để nhắc bé không được đi quá xa, nhưng bé đã biến mất tự bao giờ!
       Tất nhiên là người ta đã dồn mọi nỗ lực để tìm em bé. Những nhà hàng xóm đã tập trung tìm kiếm trong những khu rừng và những ngọn núi quanh đó nhiều dặm. Họ rà soát, mò vét phía cuối từng dòng suối chảy qua cối xay, và cả những con lạch suốt những đoạn rất dài dưới con đập. Nhưng đều không tìm thấy dấu vết của bé. Một hai ngày trước có một gia đình sống lang thang hạ trại ở cánh rừng nhỏ gần đó, nên có người phỏng đoán rằng có thể bé đã bị họ bắt cóc, nhưng khi dân làng đuổi theo, bắt kịp cỗ xe của gia đình đó, và lục soát thì vẫn không thấy em bé!  
       Ông chủ nhà máy vẫn ở lại nhà máy trong gần hai năm; và rồi hy vọng tìm lại được con gái tắt hẳn. Ông bà chuyển đến sống ở vùng Tây Bắc. Trong một vài năm, ông làm chủ một nhà máy xay hiện đại tại một trong những thành phố xay xát quan trọng trong khu vực đó. Bà Strong không bao giờ hồi phục sau cú sốc mất Aglaia, và hai năm sau khi họ chuyển tới vùng Tây Bắc, chỉ còn lại một mình ông chủ nhà máy xay ở lại cõi trần gian gánh nỗi muộn phiền.
      Khi Abram Strong khá giả, ông đã về thăm lại Lakelands và nhà máy xay cũ. Cảnh vật thật buồn với ông, nhưng là người mạnh mẽ, ông luôn tỏ ra vui vẻ và nhân hậu. Đây cũng là lúc ông có cảm hứng chuyển đổi nhà máy cũ thành một  nhà thờ. Lakelands quá nghèo không xây được nhà thờ; những người miền núi còn nghèo hơn nên cũng chẳng giúp được gì. Trong vòng gần hai mươi dặm, người dân không có nơi nào để thờ phụng.
      Ông chủ nhà máy cố gắng thay đổi diện mạo của nhà máy xay cũ càng ít càng tốt. Chiếc guồng nước vẫn giữ nguyên vị trí. Những người trẻ tuổi đi lễ nhà thờ thường khắc chữ cái đầu tên của họ vào thân gỗ mềm đang mục nát dần.  Đập nước đã bị phá hủy một phần, dòng suối trong vắt chảy từ núi, tuôn róc rách xuống nền đá. Bên trong nhà máy, có những thay đổi lớn hơn. Những trục bánh, thớt đá, dây đai, ròng rọc, tất nhiên được tháo bỏ. Có hai hàng ghế dài với lối đi ở giữa, một bục nâng và một bục giảng ở mỗi đầu nhà. Ở ba vách trên cao là một hành lang có đặt ghế ngồi và có cầu thang đi lên bên trong. Ngoài ra còn có một đàn hơi- một đàn organ ống thực sự - đặt trên hành lang, đó là niềm tự hào của giáo đoàn Nhà-Thờ-Cối- Xay- Cũ.
        Cô Phoebe Summers là người chơi đàn organ. Các cậu trai Lakelands tự hào thay phiên bơm đàn cho cô vào mỗi buổi lễ Chủ nhật. Mục sư Banbridge- người thuyết giáo- từ đèo Squirrel Gap cưỡi con ngựa trắng già nua của mình đến đây, không bỏ lỡ một buổi lễ nào. Ông Abram Strong trả chi phí cho mọi thứ, nhà thuyết giáo được trả năm trăm đô la một năm; còn cô Phoebe hai trăm đô la.
        Như vậy, để tưởng niệm Aglaia nhà máy xay cũ đã được chuyển đổi thành một phúc lành cho cộng đồng nơi bé từng sống. Dường như cuộc sống ngắn ngủi của đứa bé đã mang lại nhiều điều tốt đẹp hơn quãng đời bảy mươi năm của nhiều người.Nhưng Abram Strong còn tạo dựng một sản phẩm tưởng niệm khác nữa. Các nhà máy của ông ở vùng Tây Bắc đã sản xuất loại bột mang nhãn hiệu Aglaia- từ loại lúa mì tốt nhất và chắc nhất. Và chẳng bao lâu dân vùng đó nhận ra bột mì Aglaia có hai giá. Một giá bán trên thị trường là cao nhất, còn giá kia là – cho không.
       Bất cứ nơi nào xảy ra tai họa khiến người dân lâm vào cảnh khốn cùng- như hỏa hoạn, lũ lụt, lốc xoáy, đình công hay nạn đói- thì sẽ có một lô hàng lớn “bột mì Aglaia" được khẩn cấp gởi đến với giá cho không. 
Lô hàng được gởi đi một cách hợp lý và thận trọng, rồi sau đó được phân phát rộng rãi trong vùng đói kém cho người dân, mà họ không phải trả một xu nào. Thiên hạ đồn rằng, cứ khi nào xảy ra hoả hoạn ở những vùng đói kém của thành phố, thì đến trước nhất là xe của ông đội trưởng đội cứu hoả, kế đó là đoàn xe bột mì Aglaia, rồi mới đến mấy chiếc xe cứu hoả!    
      Công trình kỷ niệm khác của Abram Strong để nhớ về Aglaia, là vậy đó. Có lẽ với một nhà thơ, chủ đề này có vẻ quá thực tế đối với cái Đẹp; nhưng đối với một số người khác thì điều tưởng tượng có vẻ dịu dàng tinh tế lại là lô bột mì còn mới nguyên, trắng tinh và nguyên chất, mang theo sứ mệnh của tình yêu và lòng nhân hậu- có thể được ví như linh hồn của đứa bé đã mất, mà qua đó ký ức về bé được khắc ghi.
       Rồi đến một năm, Cumberlands gặp khó khăn. Khắp nơi đều thất mùa, cây trồng ở địa phương không còn gì cả. Những trận lũ miền núi gây thiệt hại quá lớn cho tài sản. Ngay cả thú rừng cũng khan hiếm đến nỗi những người thợ săn không có đủ thịt để nuôi sống gia đình họ.Đặc biệt ở Lakelands thời tiết vô cùng khắc nghiệt.
      Ngay khi Abram Strong biết tin, thông báo của ông lập tức được truyền đi, và những toa tàu nhỏ chạy trên đường ray khổ hẹp bắt đầu chuyển bột mì Aglaia đến Lakelands. Lệnh của ông chủ máy xay là dự trữ bột mì ở hành lang của Nhà Thờ Cối Xay Cũ, và mỗi người đi lễ nhà thờ đều được mang một bao bột về nhà. 
     Hai tuần sau đó, Abram Strong có chuyến đi nghỉ ở Eagle House hàng năm,  và lại trở thành "Cha Abram".
      Mùa nghỉ hè năm đó, Eagle House có khách ít hơn bình thường, và trong số khách có cô Rose Chester, đến từ bang Atlanta, nơi cô làm việc trong một cửa hàng bách hóa. Đây là chuyến đi chơi đầu tiên trong đời cô. Bà vợ của người quản lý cửa hàng đã có lần nghỉ hè tại Eagle House. Bà rất quí Rose, nên thuyết phục cô đến đó nghỉ trong ba tuần, và đưa cho cô một lá thư gửi gắm cho bà Rankin- và người này vui vẻ nhận chăm sóc cô.
     Cô Chester không được khỏe lắm, tuổi chừng hai mươi, xanh xao mảnh khảnh vì ở nhà nhiều hơn ra ngoài. Nhưng một tuần tại Lakelands đã đem đến cho cô một sự tươi tắn và năng động khiến cô thay đổi một cách kỳ diệu. Thời điểm ấy là đầu tháng Chín khi vùng Cumberlands đẹp nhất trong năm. Lá cây miền núi trở nên rực rỡ với những sắc màu mùa thu. Người ta hít thở không khí mang hương vị rượu sâm panh, đêm se lạnh tuyệt vời, khiến người ta phải rúc mình dễ chịu dưới tấm chăn ấm áp của Eagle House.
      Cha Abram và cô Chester đã trở thành những người bạn thân thiết tuyệt vời. Ông chủ nhà máy xay cũ biết chuyện của cô từ bà Rankin, và ông nhanh chóng quan tâm đến cô gái cô đơn mảnh khảnh đang tự tìm cho mình một lối đi trên đường đời.
       Xứ núi thực sự mới mẻ đối với cô Chester. Cô sống nhiều năm ở thành phố Atlanta ấm áp, bằng phẳng; nên sự hùng vĩ, muôn màu muôn vẻ, của vùng Cumberland khiến cô thích thú. Cô quyết tâm tận hưởng từng giây từng phút ở đây. Số tiền tiết kiệm ít ỏi của cô, liên quan đến các khoản chi tiêu, đã được tính toán cẩn thận đến nỗi cô hầu như biết rõ đến từng xu một, số tiền cực kỳ nhỏ mà cô còn dư là bao nhiêu, khi cô trở lại làm việc.
       Cô Chester may mắn khi có được Cha Abram như một người bạn, và cũng như một người đồng hành. Ông thuộc mọi con đường, đỉnh núi, và độ dốc của những ngọn núi gần Lakelands. Nhờ ông, cô trở nên quen thuộc với niềm vui trang trọng của những bóng râm, mấy lối đi nghiêng giữa những cánh rừng thông, vẻ uy nghiêm của những vách đá cheo leo trần trụi, những buổi sáng bổ như rượu thuốc, và trong veo như pha lê, những buổi chiều bình dị mơ màng, đầy nỗi buồn bí ẩn. Vì vậy, sức khỏe của cô được cải thiện, tinh thần của cô trở nên nhẹ nhàng. Cô cười vui và nồng nhiệt, rất nữ tính- cũng như tiếng cười tuyệt diệu của Cha Abram. Cả hai đều là những người lạc quan tự nhiên; và cả hai đều biết cách tặng cho đời khuôn mặt tươi vui và thanh thản.
       Một ngày nọ, từ một vị khách, cô Chester biết được câu chuyện về đứa con gái đã mất của Cha Abram. Cô nhanh chóng chạy đi và thấy người thợ xay ngồi trên chiếc ghế mộc yêu thích của ông bên dòng suối…         Ông ngạc nhiên khi người bạn nhỏ của mình áp bàn tay vào tay ông, và nhìn ông mà nước mắt lưng tròng.
      - Ôi, cha Abram- cô nói- Tôi rất xin lỗi! Mãi đến hôm nay tôi mới biết về cô con gái bé bỏng của Cha. Cha sẽ tìm thấy cô ấy một ngày nào đó - Ồ, tôi hy vọng Cha sẽ gặp lại con gái của mình.
        Ông chủ cối xay nhìn cô với nụ cười mạnh mẽ, cởi mở.
      - Cảm ơn, cô Rose- ông nói, với giọng điệu vui vẻ thường ngày- Nhưng tôi không còn trông mong tìm thấy Aglaia nữa. Trong một vài năm, tôi hy vọng rằng con bé đã bị những kẻ lang thang bắt cóc, và nó vẫn còn sống; nhưng hy vọng đó đã tắt rồi. Tôi nghĩ nó đã bị chết đuối.
       - Tôi có thể hiểu- cô Chester nói- phải sống triền miên trong sự hồ nghi thấp thỏm về sự việc nói trên thật khó khăn đau đớn biết dường nào! Nhưng cha vẫn rất vui vẻ và sẵn sàng làm giảm gánh nặng cho những người khác. Cha tốt lắm, Cha Abram!
      - Ôi cô Rose cô tử tế lắm! Ông chủ cối xay bắt chước, mỉm cười- Có mấy ai nghĩ về người khác nhiều hơn cô chứ?
        Một nỗi xúc động lạ thường như chiếm lĩnh cả tâm hồn cô Chester.
     -Ôi, Cha Abram- cô khóc- tôi có được trở thành con gái của Cha không? Sẽ không quá lãng mạn phải không ạ? Và Cha có muốn nhận tôi làm một đứa con gái của Cha không?".
       -Thật lòng tôi muốn vậy- ông chủ xay xát nói, chân thành- Nếu Aglaia còn sống, tôi không thể ước gì hơn là con bé đã lớn lên thành một thiếu nữ xinh xắn như cô. Có lẽ cô là Aglaia- ông tiếp tục chìm vào tâm trạng đùa vui cùng cô Chester- cô không thể nhớ lúc chúng ta sống ở nhà máy xay đó sao?
        Chester nhanh chóng rơi vào trạng thái trầm tư nghiêm túc. Đôi mắt to của cô mơ hồ nhìn vào thứ gì đó ở xa xăm. Cha Abram rất thích thú khi cô nhanh chóng trở nên nghiêm túc như vậy. Cô ngồi như thế một lúc lâu trước khi nói- Không- cô nói chậm dãi, với một tiếng thở dài- Tôi không thể nhớ bất cứ điều gì về một nhà máy xay cả! Tôi không nghĩ rằng tôi từng thấy một nhà máy bột mì trong đời, trước khi tôi nhìn thấy nhà thờ ngồ ngộ nho nhỏ của Cha. Và nếu tôi là con gái của Cha, tôi sẽ còn nhớ việc ấy phải không? Tôi rất xin lỗi, thưa Cha Abram.
        - Tôi cũng vậy mà- Cha Abram hóm hỉnh nói- Nhưng nếu như cô không thể nhớ rằng cô là cô con gái nhỏ của tôi, cô Rose, thì chắc hẳn cô có thể nhớ lại mình là con ai chứ! Và dĩ nhiên cô cũng nhớ cha mẹ của chính mình chứ! .
         -Ồ, vâng, tôi nhớ họ rất rõ- đặc biệt là cha tôi. Ông ấy không giống Cha chút nào cả Cha Abram ạ. Ôi, tôi chỉ tin rằng: thôi nào, bây giờ, Cha đã nghỉ ngơi đủ rồi. Cha đã hứa chiều nay dẫn tôi đi xem cái hồ nuôi cá hồi mà.Tôi chưa bao giờ trông thấy cá hồi cả!
       Một chiều muộn, Abram một mình đi đến nhà máy cũ, ông thường ngồi ở đấy mà nghĩ về ngày tháng xa xưa thuở ông còn sống trong ngôi nhà gỗ phía bên kia đường. Thời gian đã làm mòn độ sắc lạnh của những nỗi đau, cho đến khi ông không còn tìm thấy những hồi ức về đoạn đời đau đớn đó nữa. Nhưng cứ mỗi khi Abram Strong ngồi ở đây trong những chiều tháng Chín u sầu, tại nơi mà bé Dums từng qua lại mỗi ngày với mấy lọn tóc vàng bay bay, thì nụ cười mà dân làng Lakelands thường thấy trên khuôn mặt ông, không còn nữa!
        Ông chủ nhà máy xay đi chầm chậm lên con đường dốc đứng quanh co. Cây cối mọc san sát hai bên rìa đường đến nỗi ông như đi trong bóng râm của chúng, với chiếc mũ trên tay. Những con sóc đùa nghịch trên hàng rào đường sắt cũ phía bên phải ông. Trong đống rạ, vài con con chim cút đang gọi bầy chim non của chúng. Mặt trời xuống thấp còn vương một dải nắng dài vàng nhạt ở khe núi phía tây. Đầu tháng 9! Nghĩa là chỉ còn vài hôm nữa thì đến kỷ niệm ngày Aglaia mất tích.
        Chiếc guồng nước cũ, mà dây thường xuân che phủ hết một nửa, đón bắt những mảng nắng ấm áp lọt qua những hàng cây. Ngôi nhà phía bên kia đường vẫn còn đó, nhưng chắc chắn sẽ sụp đổ trước gió núi về trong mùa đông tới. Ngôi nhà tràn lan những bìm bìm và dây mỏ quạ, cánh cửa cái treo lơ lửng vào nhà chỉ với một chiếc bản lề.  
       Cha Abram đẩy cánh cửa nhà máy, nhẹ nhàng bước vào. Và rồi ông đứng yên, lòng thấy băn khoăn. Ông nghe tiếng khóc triền miên nức nở của ai đó. Ông nhìn, và thấy cô Chester đang ngồi trên một chiếc băng dài đặt trong chỗ lờ mờ tối, đầu cúi xuống một lá thư mở ra trên tay cô.
       Cha Abram đi đến bên cô, đặt đôi bàn tay mạnh mẽ lên tay cô. Cô ngước lên, thì thầm tên ông, và cố gắng nói thêm...
       -Khoan đã, cô Rose- người thợ xay ân cần nói- Đừng cố nói chuyện. Không có gì tốt cho cô hơn là cứ lặng lẽ khóc đi, khóc một chút, khi cô đang buồn.
      Có vẻ người thợ xay già, do bản thân đã trải qua quá nhiều nỗi muộn phiền, nên gần như một bậc thầy trong việc hoá giải chúng, giúp những người khác. Tiếng nức nở của cô Chester từ từ dịu đi. Ngay sau đấy, cô rút chiếc khăn tay nhỏ thêu hoa văn giản dị lau mấy giọt nước mắt của cô rơi trên đôi bàn tay to lớn của Cha Abram. Rồi cô ngước lên và mỉm cười qua những dòng nước mắt. Cô Chester luôn có thể mỉm cười trước khi khô đôi dòng lệ, cũng như Cha Abram có thể mỉm cười qua nỗi buồn đau của chính mình. Về điểm này thì hai người rất giống nhau!
        Người thợ xay chẳng hỏi cô câu nào; nhưng dần dần cô Chester bắt đầu kể cho ông nghe.
       Đó là một câu chuyện cũ luôn luôn có vẻ rất lớn lao và quan trọng đối với lớp người trẻ, và đem lại nụ cười hồi tưởng cho người lớn tuổi. Tình yêu là chủ đề, như được cho là vậy. Có một chàng trai trẻ ở Atlanta, đầy thiện tâm và thanh nhã, phát hiện cô Chester cũng sở hữu những phẩm chất nói trên còn cao hơn tất cả những người khác ở Atlanta, hoặc bất cứ nơi nào khác từ Greenland đến Patagonia.
        Cô đưa cho Cha Abram bức thư đã khiến cô khóc. Đó là một bức thư dịu dàng nhưng mạnh mẽ, có một chút phóng đại và cấp bách, theo phong cách viết thư tình của những chàng trai đầy thiện tâm và thanh nhã. Trong thư chàng trai cầu hôn cô Chester ngay lập tức. Anh bảo rằng mới vắng cô có ba tuần mà anh hầu như không sống nổi nữa. Anh van xin cô hãy cho anh câu trả lời ngay lập tức. Và nếu thấy có triển vọng, anh hứa rằng, anh sẽ bất chấp loại đường sắt khổ hẹp, mà nhanh chóng đến Lakelands ngay lập tức.    
        -Vậy vấn đề là gì? Người thợ xay hỏi khi ông đọc xong bức thư.
       -Tôi không thể kết hôn với anh ấy- cô Chester nói.
       - Cô có muốn kết hôn với anh ấy không? Cha Abram hỏi.
      -Ồ, tôi yêu anh ấy mà! cô trả lời- nhưng …Cô lại cúi đầu xuống khóc nức nở.
      - Thôi nào, cô Rose- người thợ xay nói- cô có thể tin tưởng tôi mà! Tôi không tra vấn hạch hỏi cô, nhưng tôi nghĩ cô có thể tin tưởng tôi.
       -Tôi tin tưởng cha - cô gái nói- Tôi sẽ nói cha biết tại sao tôi phải từ chối Ralph. Lý do là vì tôi không là ai cả, tôi thậm chí không có tên, cái tên mà tôi tự gọi mình là do tôi nói dối đấy! Ralph là một người đàn ông cao thượng, tôi thực lòng thương yêu anh ấy, nhưng tôi chẳng bao giờ về với anh ấy được.
       -Chuyện gì thế? Cha Abram nói. Cô nói cô nhớ cha mẹ. Vậy tại sao cô nói cô không có tên? Tôi không hiểu gì cả!
       -Tôi còn nhớ cha mẹ tôi chứ! cô Chester nói.Tôi còn nhớ cha mẹ tôi rất rõ. Ký ức đầu tiên của tôi là về cuộc sống của chúng tôi ở đâu đó nơi phương Nam xa xôi. Chúng tôi đã có rất nhiều cuộc di chuyển đến các thị trấn và các bang khác nhau. Tôi đi hái bông, và làm việc trong các nhà máy, thường xuyên không đủ ăn đủ mặc. Mẹ tôi đôi khi cũng tốt với tôi, nhưng cha tôi thì luôn tàn nhẫn và đánh đập tôi. Tôi nghĩ cả hai người đều lông bông, không có chỗ ở ổn định.
       -Một đêm nọ, hồi mà chúng tôi đang sống trong một thị trấn nhỏ ven một con sông gần Atlanta, cha mẹ tôi đã có một cuộc cãi vã lớn. Chính vào lúc họ đang chưởi bới và chọc tức nhau mà tôi được biết …. ôi, Cha Abram, tôi được biết là tôi thậm chí không cái quyền mà lẽ ra phải có- cha không hiểu sao? Tôi thậm chí không có cả cái quyền mang một cái tên- tôi chẳng là ai cả! Rồi tôi đã bỏ trốn ngay đêm hôm ấy.Tôi đi bộ đến Atlanta, và tìm được việc. Tôi tự đặt tên cho mình là Rose Chester, và tự kiếm sống từ đó. Bây giờ cha đã biết tại sao tôi không thể kết hôn với Ralph rồi đó! Và, than ôi, tôi không bao giờ có thể nói với anh ấy là vì sao lại như thế!
       Sự đánh giá thấp mang tính giễu cợt đối của Cha Abram trước nỗi lòng phiền muộn buồn của cô Chester xem ra lại tốt hơn bất kỳ sự cảm thông nào, và hữu ích hơn là sự thương hại:
       -Tại sao, trời ơi, trời ơi, tất cả chỉ có thế thôi à?- ông nói - Xấu hổ, thật xấu hổ! Tôi nghĩ có cái gì đó lấn cấn ở đây. Nếu chàng trai trẻ hoàn hảo này đúng là một người đàn ông, anh ta sẽ không quan tâm đến ba cái chuyện nhỏ nhặt như thế về gia thế nhà cô đâu! Cô Rose thân mến, hãy nghe tôi nói, cái chính là anh ta quan tâm đến bản thân cô. Hãy nói thẳng nói thật với anh ấy, như cô đã nói với tôi vậy, và tôi đảm bảo rằng anh ấy sẽ bật cười khi nghe cô thổ lộ đấy,và nghĩ về cô nhiều hơn cái chuyện đó.
      - Tôi sẽ không bao giờ nói cho anh ấy biết - cô Chester buồn rầu nói- Và tôi cũng sẽ không bao giờ kết hôn với anh ấy hay ai khác cả. Tôi không có quyền.
       Họ không thấy gì ngoài một cái bóng đổ dài nhấp nhô trên con đường đầy nắng, rồi đến một cái bóng ngắn hơn nhấp nhô bên cạnh, và chẳng mấy chốc hai cái bóng kỳ lạ ấy đã đến gần nhà thờ. Cái bóng dài là của cô Phoebe Summers, người chơi đàn organ, đến để luyện tập. Còn cái bóng ngắn hơn là của Tommy Teague, mười hai tuổi. Hôm nay là ngày Tommy trực bơm đàn organ cho cô Phoebe, mấy ngón chân trần của cậu kiêu hãnh đá tung cát bụi trên đường.
      Cô Phoebe trong bộ váy màu tím hoa cà, với mấy lọn tóc quăn thả xuống hai bên tai, cúi chào Cha Abram, xong kiểu cách hất mấy lọn tóc quăn, chào cô Chester. Rồi cô Phoebe và người trợ lý đi lên cái cầu thang dốc, đến chỗ đặt cây đàn organ.
       Bên dưới, trong bóng tối đang lan dần, Cha Abram và cô Chester còn nán lại, cùng im lặng như đang đắm chìm trong ký ức. Chester ngồi, đầu tựa lên tay, đôi mắt đăm đắm xa xăm. Cha Abram đứng cạnh chiếc ghế dài kế bên, trầm ngâm nhìn ra ngoài cửa, ngắm con đường và ngôi nhà xưa đổ nát.
      Đột nhiên, quang cảnh như vật đổi sao dời, đem ông trở lại gần hai mươi năm về trước. Vì khi cậu bé Tommy bơm hơi cho đàn xong, cô Phoebe đánh một nốt trầm và cứ giữ luôn như thế để thử hơi đàn. Và ngay khi ấy, ngôi nhà thờ tưởng như không còn tồn tại nữa, chừng nào Cha Abram còn suy tư. Một sự rung động ầm ào, sâu thẳm, làm rung chuyển cả ngôi nhà nhỏ, không phải âm thanh của một nốt nhạc trầm, mà là tiếng rền của máy xay.
      Ông cảm thấy một cách rõ ràng rằng chiếc guồng nước cũ đang quay, rằng ông lại là một người thợ xay vui vẻ, bụi bặm, trong một nhà máy xay cũ ở miền núi năm nào. Giờ thì chiều đang xuống, và chút nữa đây, bé Aglaia sẽ đến với trang phục gọn gàng sặc sỡ, sẽ chập chững băng qua đường để đưa ông về nhà ăn tối. Cha Abram nhìn chăm chăm vào cánh cửa nứt vỡ của căn nhà gỗ.
       Thế rồi lại xảy ra một điều kỳ diệu khác. Ở hành lang phía trên có những bao bột được xếp thành hàng, và có lẽ một trong những bao bột đã bị chuột cắn, không biết thế nào, nhưng âm thanh nốt nhạc trầm sâu ầm ào vang vọng của đàn organ đã làm rung chuyển mấy khe nứt trên sàn hành lang, và một dòng bột tuôn xuống, phủ lên Cha Abram một lớp bụi trắng từ đầu đến chân. Liền đó, ông chủ máy xay già ấy bước ra lối đi giữa hai hàng ghế, vẫy vẫy tay, hát lên bài ca của người thợ xay:
Guồng nước quay quay
Lúa mì ta xay
Bụi trắng cả người
..……………………
        Rồi phần còn lại của phép lạ đã xảy ra. Cô Chester đang ngồi trên chiếc ghế dài bỗng ngã người về phía trước, mặt trắng bệch ra như bột, mắt mở to, trân trối nhìn Cha Abram như một người mộng du. Khi ông hát, cô đưa hai cánh tay về phía ông, môi cô mấp máy, rồi cô gọi ông, trong một giọng mơ màng: Cha, cha, đem Dums về nhà.
       Cô Phoebe đã buông phím đàn, nhưng sứ mệnh của cô đã hoàn thành một cách kỳ diệu. Nốt nhạc trầm cô đánh ấy đã mở tung những cánh cửa của miền ký ức tưởng đã đóng chặt, và cha Abram ôm chặt lấy Aglaia- cô con gái tưởng đã mất của ông. 
     Khi bạn đến thăm Lakelands, người ta sẽ kể cho bạn nghe nhiều hơn về câu chuyện này. Bạn sẽ được nghe kể về hành trình lần theo dấu vết vụ mất tích, được tiết lộ về vụ những người du mục bắt cóc cô con gái nhỏ của ông chủ máy xay trong một ngày tháng Chín, do bị hấp dẫn bởi vẻ đẹp trẻ thơ của em. Nhưng thôi hãy đợi đến khi ngồi ung dung dưới hàng hiên râm mát của Eagle House, bạn sẽ được nghe câu chuyện một cách thanh thản. Và có vẻ như phần hay nhất của câu chuyện này nên khép lại khi nốt nhạc trầm sâu của cô Phoebe hãy còn dịu dàng vang vọng đó đây. 
       Tuy nhiên, theo suy nghĩ của tôi, trong tất cả những gì đã diễn ra trong câu chuyện này, thì tuyệt vời nhất là đoạn Cha Abram và con gái đang nhẹ bước trở về Eagle House, khi bóng ngã về chiều, và họ gần như không nói được một lời nào, vì quá đỗi hạnh phúc.
       - Cha- cô nói, có chút hồ nghi ngần ngại- cha nhiều tiền không?
      - Nhiều tiền hả con ? ông chủ máy xay nói- À, điều đó thì còn tùy, cha có nhiều tiền con ạ, trừ khi con muốn mua mặt trăng, hay thứ gì đó đắt như thế!
        Aglaia, người luôn dè xẻn từng xu một, lại hỏi :
       - Gởi điện tín đi Atlanta có mất nhiều tiền không cha?
       -À, Cha Abram nói, với một tiếng thở dài kín đáo. Cha biết rồi, con muốn mời Ralph đến đây.
       Aglaia ngước nhìn cha, mỉm cười dịu dàng:
       -Con muốn Ralph chờ đợi! cô nói. Con mới tìm được cha, nên con muốn chỉ có hai cha con ta thôi trong ít lâu. Con muốn bảo anh ấy phải chờ đợi!

***************************
 
 

Lượt xem: 107

Quảng cáo

Email
Tiêu đề thông điệp
Nội dung thông điệp
 Security code
Hỗ trợ online
  • Tư vấn viên Ms. Thủy
  • Tư vấn viên Ms. Trang
  • Tư vấn viên Ms. Đào