LẠC GIỮA PHÙ HOA
LOST ON DRESS PARADE
BY O. HENRY
https://etc.usf.edu/lit2go/131/the-four-million/2414/lost-on-dress-parade/
 
Nguyễn Đại Hoàng & Phùng Hoài Ngọc chuyển ngữ và chú giải
 
*****************************************
DẪN
Truyện ngắn LOST ON DRESS PARADE in trong tập truyện ngắn THE FOUR MILLION của nhà văn O. Henry, do nhà xuất bản Doubleday, Page & Company - Newyork, ấn hành năm 1906. Nội dung truyện nói về một- chuyện-tình-chưa-xảy -ra, với một cái kết để lại bao nuối tiếc không chỉ cho chàng Chandler, nhân vật chính trong truyện, mà còn cho hàng bao nhiêu thế hệ độc giả trên khắp thế giới.
      Thuở đó chàng tuổi trẻ Chandler đang bắt đầu sự nghiệp tại một văn phòng kiến trúc sư. Cuộc sống thiếu kém nhưng chàng vẫn cố dành dụm mỗi tuần 1 đô la, để rồi cứ sau 10 tuần như vậy, chàng có một buổi tối đặc biệt: với bộ cánh quý phái, chàng xuống phố, hoà vào thế giới thượng lưu, và dùng một bữa ăn tối xa hoa. Chỉ đơn giản vậy thôi!
        Nhưng trong một buổi tối như thế, Chandler tình cờ đã có cuộc gặp gỡ định mệnh, gần như kiểu anh hùng cứu mỹ nhân, với nàng Marian, khi nàng bị ngã trặc chân gần góc phố chàng đang đứng.
        Chỉ là bình thường thôi nếu nàng không quá đẹp, và chàng không quá mê say nàng đến nỗi chàng nói ra với nàng những điều không có thực về bản thân mình, khi mời nàng dùng bữa tối.
         Nhưng chàng KHÔNG TIN mình, như chính chàng đã cảm thán ở đoạn gần cuối truyện:
       Về lại chiếc giường ngủ lạnh lẽo cô đơn của mình, Chandler bỏ qua một bên bộ vest buổi tối sẽ dùng đến cho buổi tối sau sáu mươi chín ngày nữa, nghĩ ngợi mông lung.
      - Đúng là một cô gái thật tuyệt vời- anh tự nhủ- và cũng rất hoàn hảo, mình thề đấy, cho dù nàng thuộc giới cần lao. Lẽ ra ta nên nói sự thật với nàng, thay vì lê thê những chuyện phù hoa hào nhoáng- nếu vậy thì mình với nàng đã có thể ….nhưng than ôi, mình buộc phải nói những chuyện cho tương xứng với bộ cánh mà mình mặc chứ!
       Người chiến binh được sinh ra và được nuôi dạy trong các căn lều của bộ tộc người Manhattan đã cảm thán như vậy đấy!
        Không tin chính mình. Đó là bi kịch thứ nhất của Chandler.
         Buộc phải sống khác, rất khác với con người thật của mình. Đó là bi kịch thứ hai của Chandler.
       Và trong cuộc chuyện trò với Marian, ít nhiều thì Chandler cũng nhận ra nàng đang nghi ngờ việc phô trương thân thế không có thực của chàng : 
        Anh càng thấy cô ấn tượng với mấy câu chuyện mơ hồ này, lại càng khoác lác tợn, anh làm như vô tình nửa úp nửa mở nói lộ ra một tài sản lớn nào đó, hoặc là nhắc đến một cách thân quen một vài cái tên được những người nghèo kính nể. Bởi Chandler chỉ có một buổi tối xa hoa ngắn ngủi này nên anh phải khai thác nó một cách tốt nhất. Nhưng có một hai lần anh đã nhìn thấy ánh sáng tự tâm hồn thuần khiết như vàng ròng của cô gái này soi thấu qua một màn sương mờ ảo,do chính anh dựng lên giữa những điều anh phô trương, và thực tế xung quanh anh.
      Càng nói, càng sợ bị phát hiện! Đó là bi kịch thứ ba của Chandler.
      Nhưng còn Marian, nàng có TIN chàng không? Nàng TIN! Nhưng như lời nàng Marian nói ở đoạn cuối truyện :
     - Chị ạ, em có thể THÍCH một người có đôi mắt xanh thẫm dịu dàng, hiền lành và biết tôn trọng những cô gái nghèo, một người có dung mạo đẹp đẽ,  nhân hậu, không đùa cợt tán tỉnh. Nhưng chị ơi, em chỉ có thể YÊU anh ấy khi anh ấy có hoài bão, có mục tiêu, và có việc làm trong thế giới này. Em không quan tâm đến chuyện anh ấy nghèo thế nào bởi em có thể giúp anh ấy gầy dựng sự nghiệp. Và chị thân yêu ơi, loại đàn ông mà chúng ta vẫn luôn gặp đó - lại sống một cuộc đời vô công rồi nghề giữa xã hội thượng lưu, với những nhóm những hội của anh ta, em không thể yêu một người đàn ông như thế, kể cả khi đôi mắt anh ta có xanh, tấm lòng anh ta có tốt với những cô gái nghèo mà anh ta gặp trên phố.
      Tin mà không thể yêu được. Yêu mà không thể tin được. Đó là một bi kịch của con người. Nhưng cũng là bi kịch thứ tư của Chandler! Bởi bản chất muôn thuở của tình yêu vẫn là CHÂN THẬT & TỰ DO. 
      Đã hơn 100 năm trôi qua kể từ thuở O. Henry viết truyện ngắn này, nhưng hôm nay, giữa chốn đô thành nhộn nhịp, ánh đèn màu rực rỡ, chúng ta vẫn luôn thấy, luôn gặp những chàng Chandler thời hiện đại đi lạc, lang thang trong thế giới này, lang thang trong chính bản thân mình, như chàng Chandler năm xưa lạc giữa phù hoa. 
      Liệu trong xã hội kim tiền như hôm nay liệu chúng ta, dù rất khó khăn với phù hoa, và rất dễ bị lầm đường lạc lối với phù hoa, nhưng có thể SỐNG GIỮA PHÙ HOA được không nhỉ?
 
HAD tháng 3/2019
***************************
 
       Mr. Towers Chandler was pressing his evening suit in his hall bedroom. One iron was heating on a small gas stove; the other was being pushed vigorously back and forth to make the desirable crease that would be seen later on extending in straight lines from Mr. Chandler's patent leather shoes to the edge of his low–cut vest.
      So much of the hero's toilet may be intrusted to our confidence. The remainder may be guessed by those whom genteel poverty has driven to ignoble expedient. Our next view of him shall be as he descends the steps of his lodging–house immaculately and correctly clothed; calm, assured, handsome—in appearance the typical New York young clubman setting out, slightly bored, to inaugurate the pleasures of the evening.

      Towers Chandler đang ủi bộ vest buổi tối trong căn hộ một phòng của anh. Một cái bàn ủi đang được nung nóng trên bếp ga nhỏ. Một cái khác đang được đẩy tới đẩy lui đủ mạnh để có- sẽ được thấy sau đó- một đường ly như ý muốn, chạy thẳng tăm tắp từ đôi giày da bóng của Chandler tới vạt áo gi lê của anh.
      Cách sửa soạn ăn mặc của nhân vật chính phần lớn nhận được thiện cảm, nhưng cũng có phần nhỏ bị cho là “nghèo mà cố làm ra vẻ” để toan tính gì đấy.  Nhưng cái nhìn tiếp đó của chúng ta về anh, là khi anh bước xuống những bậc thang của khu nhà trọ, y trang chỉnh tề tươm tất, phong thái điềm đạm tự tin, dung mạo đoan chính đẹp đẽ- đúng chất một chàng trai New York trẻ trung bặt thiệp, có phần buồn chán, đi ra ngoài bắt đầu những lạc thú về đêm.

        Chandler's honorarium was $18 per week. He was employed in the office of an architect. He was twenty–two years old; he considered architecture to be truly an art; and he honestly believed—though he would not have dared to admit it in New York—that the Flatiron Building was inferior to design to the great cathedral in Milan.

         Chandler làm việc tại một văn phòng kiến trúc sư, thù lao 18 đô la mỗi tuần. Anh thanh niên 22 tuổi này xem kiến trúc thực sự là một nghệ thuật, và thực lòng tin rằng - dù không dám nói ra điều này ở New York- kiến trúc của tòa nhà Flatiron Building còn kém xa nhà thờ lớn ở Milan.

        Out of each week's earnings Chandler set aside $1. At the end of each ten weeks with the extra capital thus accumulated, he purchased one gentleman's evening from the bargain counter of stingy old Father Time. He arrayed himself in the regalia of millionaires and presidents; he took himself to the quarter where life is brightest and showiest, and there dined with taste and luxury.
 
       Với số tiền kiếm được mỗi tuần, Chandler để dành lại 1 đô la. Và cứ mỗi 10 tuần, với số tiền tích luỹ được, anh mua một buổi tối phong lưu sau khi đã tự mặc cả sát sao vừa vặn với chính mình về thời gian và các khoản chi tiêu. Anh khoác lên mình bộ cánh của ông tỉ phú, của ngài chủ tịch; rồi một mình đi đến nơi rực rỡ nhất, phô trương nhất, để thưởng thức một bữa tối ngon lành xa xỉ.

     With ten dollars a man may, for a few hours, play the wealthy idler to perfection. The sum is ample for a well–considered meal, a bottle bearing a respectable label, commensurate tips, a smoke, cab fare and the ordinary etceteras.
 
       Với số tiền mười đô-la, người ta có thể, dù chỉ trong ít tiếng đồng hồ, nhập vai hoàn hảo một kẻ giàu sang nhàn nhã. Số tiền đó cũng thừa sức cho một bữa ăn thịnh soạn, một nhãn hiệu rượu danh tiếng, một khoản tiền boa hậu hĩ, một điếu thuốc thơm, một cuốc xe, và những khoản linh tinh khác.

        This one delectable evening culled from each dull seventy was to Chandler a source of renascent bliss. To the society bud comes but one début; it stands alone sweet in her memory when her hair has whitened; but to Chandler each ten weeks brought a joy as keen, as thrilling, as new as the first had been. To sit among bon vivants under palms in the swirl of concealed music, to look upon the habitués of such a paradise and to be looked upon by them—what is a girl's first dance and short–sleeved tulle compared with this?
 
        Và cứ mỗi buổi tối với những món ăn ngon lành, sau mỗi bảy mươi ngày buồn chán- đối với Chandler, thật giống như hồi sinh một niềm hạnh phúc vô biên! Đối với một cô gái con nhà quyền quý, cho đến thuở bạc đầu, trong ký ức của nàng vẫn chỉ có thuở mới vào đời là hạnh phúc êm đềm, nhưng đối với Chandler thì khoảng thời gian sau mỗi mười tuần vẫn luôn luôn đem đến cho anh một niềm hân hoan háo hức như buổi tối đặc biệt đầu tiên vậy. Được ngồi giữa những con người thượng lưu, dưới hàng cọ xanh, được nghe tiếng nhạc dặt dìu, được ngắm nhìn khách quen của chốn thiên đường ấy, và cũng được họ ngắm nhìn lại, hỏi làm sao mà buổi khiêu vũ đầu tiên trong chiếc áo vải tuyn ngắn tay của một cô thiếu nữ lại có thể sánh được với điều mà Chandler đang có kia chứ ?

      Up Broadway Chandler moved with the vespertine dress parade. For this evening he was an exhibit as well as a gazer. For the next sixty–nine evenings he would be dining in cheviot and worsted at dubious table d'hôtes, at whirlwind lunch counters, on sandwiches and beer in his hall–bedroom. He was willing to do that, for he was a true son of the great city of razzle–dazzle, and to him one evening in the limelight made up for many dark ones.
 
       Đi lên phố Broadway, Chandler nhập vào đám người ăn diện hào nhoáng về đêm. Bởi trong buổi tối hôm nay, anh vừa là vật triển lãm, cũng vừa là khách tham quan triển lãm. Bởi trong sáu mươi chín buổi tối tiếp theo, anh sẽ lại dùng bữa tối trong bộ đồ len thô, áo vải sợi, tại nơi bán thức ăn phần, tại quầy bán thức ăn trưa, hay thậm chí tại căn hộ một phòng của mình, với sandwich và bia. Anh sẵn sàng làm thế, bởi anh là đứa con đích thực của chốn đô thành phồn hoa náo nhiệt này, và bởi đối với anh: một buổi tối huy hoàng cũng đủ bù đắp cho những đêm dài tăm tối.

      Chandler protracted his walk until the Forties began to intersect the great and glittering primrose way, for the evening was yet young, and when one is of the beau monde only one day in seventy, one loves to protract the pleasure. Eyes bright, sinister, curious, admiring, provocative, alluring were bent upon him, for his garb and air proclaimed him a devotee to the hour of solace and pleasure.
 
       Chandler cứ thế mà đi, đi cho đến khi những con phố thứ Bốn Mươi bắt đầu đổ vào đại lộ hoan lạc rực rỡ huy hoàng, vì buổi tối chỉ mới bắt đầu, và vì khi một người được sống trong xã hội thượng lưu chỉ một ngày trong bảy mươi ngày, anh ta hẳn muốn kéo dài mãi niềm lạc thú. Đó đây, có những ánh mắt lấp lánh, láu lỉnh, hiếu kỳ, ngưỡng mộ, khiêu khích, quyến rũ hướng về anh, bởi cách ăn mặc và phong thái của anh, đã tự nói lên rằng anh là tín đồ của niềm khuây khỏa và lạc thú.

      At a certain corner he came to a standstill, proposing to himself the question of turning back toward the showy and fashionable restaurant in which he usually dined on the evenings of his especial luxury. Just then a girl scuddled lightly around the corner, slipped on a patch of icy snow and fell plump upon the sidewalk.
 
      Đến một góc phố, Chandler đứng lại phân vân không biết có nên trở lại nhà hàng hào nhoáng sang trọng mà anh vẫn thường đến dùng bữa tối đặc biệt xa xỉ trước đây, hay không. Vừa lúc đó, gần bên góc phố, có một cô gái do quá vội vàng, thiếu quan sát, nên trượt chân trên một mảng tuyết, té đánh oạch xuống lề đường. 

      Chandler assisted her to her feet with instant and solicitous courtesy. The girl hobbled to the wall of the building, leaned against it, and thanked him demurely.
        "I think my ankle is strained," she said. "It twisted when I fell."
        "Does it pain you much?" inquired Chandler.
       "Only when I rest my weight upon it. I think I will be able to walk in a minute or two."
       "If I can be of any further service," suggested the young man, "I will call a cab, or—"
      "Thank you," said the girl, softly but heartily. "I am sure you need not trouble yourself any further. It was so awkward of me.         And my shoe heels are horridly common–sense; I can't blame them at all."
 
        Chandler liền ân cần đỡ cô dậy. Cô gái tập tễnh đến dựa vào tường của một toà nhà, và từ tốn cám ơn anh
       - Em nghĩ là bị trật cổ chân rồi- cô nói - lúc bị ngã ấy !
       - Thế còn đau không? Chandler hỏi thăm.
       - Dạ, chỉ lúc đứng thẳng thôi! Em nghĩ chút xíu nữa chắc đi được.
       - Tôi giúp được em gì nữa…. Chàng trai trẻ băn khoăn - Gọi tắc xi hay là…
       - Cám ơn ông- cô gái nói nhẹ nhàng nhưng cương quyết - em nghĩ chắc không cần đâu. Ôi! Tất cả là do em vụng thôi. Chứ hai cái gót giày có làm sao đâu. Không phải tại chúng!

        Chandler looked at the girl and found her swiftly drawing his interest. She was pretty in a refined way; and her eye was both merry and kind. She was inexpensively clothed in a plain black dress that suggested a sort of uniform such as shop girls wear. Her glossy dark–brown hair showed its coils beneath a cheap hat of black straw whose only ornament was a velvet ribbon and bow. She could have posed as a model for the self–respecting working girl of the best type.
 
        Chandler nhìn cô gái và lập tức bị cuốn hút. Cô có một vẻ đẹp thuần khiết, đôi mắt tươi sáng dịu dàng. Cô vận váy đen loại rẻ tiền, giống đồng phục của mấy cô gái bán hàng vậy. Mái tóc nâu đen bóng mượt, một vài lọn tóc xoăn lộ ra dưới chiếc nón rơm cũng rẻ tiền, chỉ trang trí thêm một dải ruy băng và cái nơ nhung. Xem ra cô có thể làm người mẫu ảnh tuyệt vời trong vai một cô công nhân đầy phẩm giá.   
 
         A sudden idea came into the head of the young architect. He would ask this girl to dine with him. Here was the element that his splendid but solitary periodic feasts had lacked. His brief season of elegant luxury would be doubly enjoyable if he could add to it a lady's society. This girl was a lady, he was sure—her manner and speech settled that. And in spite of her extremely plain attire he felt that he would be pleased to sit at table with her.
 
         Một ý tưởng chợt hiện ra trong đầu chàng kiến trúc sư trẻ tuổi. Anh sẽ mời cô gái này dùng bữa tối. Đây là điều rất có ý nghĩa mà những buổi tiệc định kỳ dù tráng lệ huy hoàng nhưng trĩu nặng cô đơn trước đây của anh còn thiếu. Thời gian xa hoa ngắn ngủi của anh sẽ như được nhân đôi nếu thêm vào đó là một quý cô. Và đây là một quý cô chứ còn gì nữa - anh chắc thế- bởi phong thái và lời lẽ của cô đã nói lên điều đó. Và cho dù nàng ăn vận hết sức giản dị, anh vẫn cảm thấy rất hạnh phúc được ngồi vào bàn ăn cùng cô.
 
        These thoughts passed swiftly through his mind, and he decided to ask her. It was a breach of etiquette, of course, but oftentimes wage–earning girls waived formalities in matters of this kind. They were generally shrewd judges of men; and thought better of their own judgment than they did of useless conventions.
 
         Những ý nghĩ này lướt nhanh qua tâm trí anh, và anh quyết định mời cô. Dĩ nhiên, điều này có phần sai phép tắc xã giao. Mấy cô làm công ăn lương thường bỏ qua phép tắc trong trường hợp này. Nhận xét của họ về đàn ông thường khá chính xác, nên họ tin vào điều đó, hơn là phải bó buộc theo những nghi thức vô ích.
 
      His ten dollars, discreetly expended, would enable the two to dine very well indeed. The dinner would no doubt be a wonderful experience thrown into the dull routine of the girl's life; and her lively appreciation of it would add to his own triumph and pleasure.
 
       Mười đô la của anh, nếu khéo tính toán, vẫn có thể đem lại cho hai người một bữa ăn thực sự ngon lành. Bữa ăn tối ấy chắc chắn sẽ là một trải nghiệm tuyệt vời trong cuộc sống đều đều tẻ nhạt của cô, và sự cảm kích hồn nhiên của cô sẽ thêm vào niềm hân hoan, vui thú của riêng anh.
 
       "I think," he said to her, with frank gravity, "that your foot needs a longer rest than you suppose. Now, I am going to suggest a way in which you can give it that and at the same time do me a favour. I was on my way to dine all by my lonely self when you came tumbling around the corner. You come with me and we'll have a cozy dinner and a pleasant talk together, and by that time your game ankle will carry you home very nicely, I am sure."
 
        - Tôi cho là - anh nói với cô tỏ vẻ quan trọng- chân của em cần được nghỉ lâu hơn em tưởng đấy. Bây giờ có cách này, chân em được tĩnh dưỡng, mà tôi cũng được vui. Lúc nãy em bị ngã ở góc phố, đúng lúc tôi ở đó, đang tính đi ăn tối một mình. Nên bây giờ em hãy đi với tôi, chúng ta sẽ có một bữa tối ấm cúng, và chuyện trò vui vẻ, đến lúc đó, cái chân đau hẳn sẽ đưa được em về nhà rồi, tôi chắc chắn như vậy đó.  

       The girl looked quickly up into Chandler's clear, pleasant countenance. Her eyes twinkled once very brightly, and then she smiled ingenuously.
        "But we don't know each other—it wouldn't be right, would it?" she said, doubtfully.
       "There is nothing wrong about it," said the young man, candidly. "I'll introduce myself—permit me—Mr. Towers Chandler. After our dinner, which I will try to make as pleasant as possible, I will bid you good–evening, or attend you safely to your door, whichever you prefer."
 
       Cô gái nhìn lướt qua vẻ mặt cởi mở trong sáng của Chandler. Mắt cô ngời lên trong khoảnh khắc, rồi mỉm cười ngây thơ.
      - Nhưng chúng ta có….quen biết đâu. Như thế…. không hay lắm, phải không? cô nói một cách e dè.
       -Không có gì đâu- chàng trai trẻ nói rõ - tôi xin tự giới thiệu, tôi là Towers Chandler. Sau bữa tối, mà tôi nghĩ rất vui vẻ, thoải mái, tôi sẽ nói lời tạm biệt em, hoặc đưa em về tận nhà an toàn, tùy theo em đó.

      "But, dear me!" said the girl, with a glance at Chandler's faultless attire. "In this old dress and hat!"
     "Never mind that," said Chandler, cheerfully. "I'm sure you look more charming in them than any one we shall see in the most elaborate dinner toilette.”
 
      -Nhưng mà em …. - cô vừa nói vừa liếc nhìn bộ trang phục hoàn hảo không tì vết của Chandler- đi ăn trong bộ váy nón cũ kỹ thế này coi sao được! 
      - Đừng bận tâm mà! Chandler vui vẻ nói- Tôi dám nói là trông em còn quyến rũ hơn bất kỳ ai chưng diện lộng lẫy nhất trong bữa ăn tối mà chúng ta từng thấy ấy chứ!
 
      "My ankle does hurt yet," admitted the girl, attempting a limping step. "I think I will accept your invitation, Mr. Chandler. You may call me—Miss Marian." 
       "Come then, Miss Marian," said the young architect, gaily, but with perfect courtesy; "you will not have far to walk. There is a very respectable and good restaurant in the next block. You will have to lean on my arm—so—and walk slowly. It is lonely dining all by one's self. I'm just a little bit glad that you slipped on the ice."

      - Cổ chân em giờ vẫn đau- cô gái vừa thú nhận, vừa cố gắng lê đi từng bước, Nhưng thôi em đồng ý với ông đó, ông Chandler. Ông có thể gọi em là cô Marian.
       - Vậy thì đi, cô Marian- chàng kiến trúc sư trẻ tuổi nhã nhặn và hân hoan nói. Nhưng em sẽ không phải đi xa đâu. Có một nhà hàng ngon nổi tiếng ở khu phố kế bên này thôi. Hãy tựa vào tay tôi mà đi từ từ . Ăn tối một mình rất cô đơn. Nên tôi cũng thấy vui vui vì em đã bị trượt té đấy !!!

        When the two were established at a well–appointed table, with a promising waiter hovering in attendance, Chandler began to experience the real joy that his regular outing always brought to him.
 
          Khi hai người đã ngồi vào bàn ăn đã được bày biện sẵn, với một anh phục vụ chịu khó đi tới đi lui, xem ra có vẻ chu đáo, Chandler cảm nhận được niềm vui thực sự mà những buổi đi ăn định kỳ trước đây vẫn luôn mang đến cho anh.

        The restaurant was not so showy or pretentious as the one further down Broadway, which he always preferred, but it was nearly so. The tables were well filled with prosperous–looking diners, there was a good orchestra, playing softly enough to make conversation a possible pleasure, and the cuisine and service were beyond criticism.
 
        Nhà hàng này tuy không hào nhoáng hay phô trương bằng nhà hàng ở cách xa hơn một tí dưới phố Broadway mà anh vẫn yêu thích, nhưng nó cũng chẳng kém gì mấy. Nhà hàng cũng có những bàn đầy khách giàu sang, cũng có một ban nhạc hay, tấu lên những giai điệu dìu dặt du dương, đủ để cuộc trò chuyện thêm phần thi vị, còn thức ăn và cung cách phục vụ thì khỏi phải bàn.

        His companion, even in her cheap hat and dress, held herself with an air that added distinction to the natural beauty of her face and figure. And it is certain that she looked at Chandler, with his animated but self–possessed manner and his kindling and frank blue eyes, with something not far from admiration in her own charming face.
 
        Và cô bạn đồng hành của anh nữa, dù váy áo nón mũ rẻ tiền, nhưng  khuôn mặt và dáng vóc của cô vẫn giữ được nét đẹp tự nhiên đặc biệt. Và chắc chắn cô cũng đã nhìn Chandler, đã thấy một chàng trai trẻ đầy sức sống, đầy tự tin, với đôi mắt xanh sôi nổi thẳng thắn, và trên khuôn mặt khả ái của cô phảng phất một cái gì đó như là ngưỡng mộ.

        Then it was that the Madness of Manhattan, the frenzy of Fuss and Feathers, the Bacillus of Brag, the Provincial Plague of Pose seized upon Towers Chandler. He was on Broadway, surrounded by pomp and style, and there were eyes to look at him. On the stage of that comedy he had assumed to play the one–night part of a butterfly of fashion and an idler of means and taste. He was dressed for the part, and all his good angels had not the power to prevent him from acting it.
 
         Thế rồi những vở hài kịch Sự điên rồ ở Manhattan, Những chuyện rùm beng cuồng loạn, Vi khuẩn phô trương, Bệnh dịch màu mè giả tạo, bỗng như xâm nhập Chandler. Anh tưởng như anh đang sống trong những vở kịch của phố Broadway, xung quanh anh là một không gian tráng lệ và nghệ thuật, những ánh mắt ngưỡng mộ đang nhìn anh. Trên sân khấu của vở hài kịch này, anh đóng vai một con người phù hoa thời trang, một kẻ từng trải, nhàn nhã giàu sang chỉ trong một đêm. Anh được phục trang cho vai diễn này và tất cả người bảo hộ hết lòng vì anh, cũng không đủ sức ngăn cản anh diễn vai này.
 
       So he began to prate to Miss Marian of clubs, of teas, of golf and riding and kennels and cotillions and tours abroad and threw out hints of a yacht lying at Larchmont.
 
      Và thế là anh bắt đầu huyên thuyên với cô Marian về những câu lạc bộ, những bữa tiệc trà, những trận đấu golf, cưỡi ngựa, những điệu nhảy, những chuyến du lịch nước ngoài và còn nói bóng gió về một chiếc du thuyền đang đậu ở Larchmont.
 
      He could see that she was vastly impressed by this vague talk, so he endorsed his pose by random insinuations concerning great wealth, and mentioned familiarly a few names that are handled reverently by the proletariat. It was Chandler's short little day, and he was wringing from it the best that could be had, as he saw it. And yet once or twice he saw the pure gold of this girl shine through the mist that his egotism had raised between him and all objects.
 
       Anh càng thấy cô ấn tượng với mấy câu chuyện mơ hồ này, lại càng khoác lác tợn, anh làm như vô tình nửa úp nửa mở nói lộ ra một tài sản lớn nào đó, hoặc là nhắc đến một cách thân quen một vài cái tên được những người nghèo kính nể. Bởi Chandler chỉ có một buổi tối xa hoa ngắn ngủi này nên anh phải khai thác nó một cách tốt nhất. Nhưng có một hai lần anh đã nhìn thấy ánh sáng tự tâm hồn thuần khiết như vàng ròng của cô gái này soi thấu qua một màn sương mờ ảo, do chính anh dựng lên giữa những điều anh phô trương và thực tế xung quanh anh.
 
        "This way of living that you speak of," she said, "sounds so futile and purposeless. Haven't you any work to do in the world that might interest you more?"
       "My dear Miss Marian," he exclaimed—"work! Think of dressing every day for dinner, of making half a dozen calls in an afternoon—with a policeman at every corner ready to jump into your auto and take you to the station, if you get up any greater speed than a donkey cart's gait. We do–nothings are the hardest workers in the land."

        - Lối sống mà ông đề cập đó - cô bắt đầu nói - nghe có vẻ phù phiếm không thực tế, và cũng không mục đích. Vậy còn có những việc gì trên thế giới này có thể làm ông quan tâm không?
       - Cô Marian thân mến của tôi - anh kêu lên - công việc ư! Công việc hàng ngày của tôi là suy nghĩ xem ăn mặc như thế nào vào bữa ăn tối; xế chiều thì gọi gần chục cuộc điện thoại can thiệp đến mấy ông cảnh sát đứng gác ở ngã tư - mấy ổng sẵn sàng nhào đến xe của cô, và đưa cô về đồn nếu như cô phóng xe chỉ nhanh hơn tốc độ của xe lừa một chút! Đấy, chúng tôi, những người không làm gì cả, hoá ra lại cực nhọc nhất trên thế giới  như vậy đấy!  

      The dinner was concluded, the waiter generously fed, and the two walked out to the corner where they had met. Miss Marian walked very well now; her limp was scarcely noticeable.
        "Thank you for a nice time," she said, frankly. "I must run home now. I liked the dinner very much, Mr. Chandler."
       He shook hands with her, smiling cordially, and said something about a game of bridge at his club. He watched her for a moment, walking rather rapidly eastward, and then he found a cab to drive him slowly homeward.
 
        Khi bữa tối đã xong, người phục vụ đã nhận tiền boa hậu hĩ, hai người cùng đi đến góc phố nơi họ đã gặp nhau. Marian lúc này đã đi bình thường, khó nhận ra sự tập tễnh nơi cô nữa. 
        - Cảm ơn ông vì những khoảnh khắc đẹp đẽ của buổi tối nay-  cô nói một cách chân thành. Giờ em phải chạy về nhà đây. Em rất thích bữa ăn tối hôm nay, ông Chanler.
        Anh bắt tay cô, cười thân ái, nói vài điều gì đó về thú chơi bài Bridge ở câu lạc bộ của anh. Anh quan sát cô trong thoáng chốc, rồi đi khá nhanh về phía đông, gọi một chiếc taxi thong thả đưa anh về nhà.
 
        In his chilly bedroom Chandler laid away his evening clothes for a sixty–nine days' rest. He went about it thoughtfully.
"That was a stunning girl," he said to himself. "She's all right, too, I'd be sworn, even if she does have to work. Perhaps if I'd told her the truth instead of all that razzle–dazzle we might—but, confound it! I had to play up to my clothes." 
Thus spoke the brave who was born and reared in the wigwams of the tribe of the Manhattans.
 
         Về lại chiếc giường ngủ lạnh lẽo cô đơn của mình, Chandler bỏ qua một bên bộ vest buổi tối sẽ dùng đến cho buổi tối sau sáu mươi chín ngày nữa, nghĩ ngợi mông lung.
          - Đúng là một cô gái thật tuyệt vời- anh tự nhủ- và cũng rất hoàn hảo, mình thề đấy, cho dù nàng thuộc giới cần lao. Lẽ ra ta nên nói sự thật với nàng, thay vì lê thê những chuyện phù hoa hào nhoáng- nếu vậy thì mình với nàng đã có thể ….nhưng than ôi, mình buộc phải nói những chuyện cho tương xứng với bộ cánh mà mình mặc chứ!

        Người chiến binh được sinh ra và được nuôi dạy trong các căn lều của bộ tộc người Manhattan đã cảm thán như vậy đấy!

       The girl, after leaving her entertainer, sped swiftly cross–town until she arrived at a handsome and sedate mansion two squares to the east, facing on that avenue which is the highway of Mammon and the auxiliary gods. Here she entered hurriedly and ascended to a room where a handsome young lady in an elaborate house dress was looking anxiously out the window.
 
        Còn cô gái, sau khi chia tay người tiếp đãi cô bữa tối, cô đi nhanh qua nhiều khu phố, cho đến khi đứng trước một ngôi biệt thự đẹp đẽ, tĩnh mịch về hướng đông, là đại lộ của tiền bạc, châu báu - nơi vô số những vị thần Tài Lộc cư ngụ. Rồi cô bước vội vào trong, lên một căn phòng, nơi đó có một thiếu nữ xinh đẹp trong trang phục rất tinh tế mặc ở nhà, đang lo lắng nhìn ra cửa sổ.
 
      "Oh, you madcap!" exclaimed the elder girl, when the other entered. "When will you quit frightening us this way? It is two hours since you ran out in that rag of an old dress and Marie's hat. Mamma has been so alarmed. She sent Louis in the auto to try to find you. You are a bad, thoughtless Puss."
The elder girl touched a button, and a maid came in a moment.
"Marie, tell mamma that Miss Marian has returned."
"Don't scold, sister. I only ran down to Mme.Theo's to tell her to use mauve insertion instead of pink. My costume and Marie's hat were just what I needed. Every one thought I was a shopgirl, I am sure."
"Dinner is over, dear; you stayed so late."
"I know. I slipped on the sidewalk and turned my ankle. I could not walk, so I hobbled into a restaurant and sat there until I was better. That is why I was so long."
 
      - Ơ này cái con bé điên rồ kia! Cô chị kêu lên khi cô em bước vào. Đến khi nào em mới hết làm mọi người lo cuống cuồng lên như thế này hở? Từ lúc em mặc bộ đồ cũ và chiếc nón của Marie chạy ra ngoài đến giờ đã là hai tiếng đồng hồ ! Mẹ lo quá, đã bảo Louis lái xe đi kiếm. Em tệ quá, con mèo điên rồ kia!
Nói xong cô chị nhấn chuông, người hầu gái có mặt ngay :
- Marie, xuống bảo với bà là cô Marian về rồi.
- Thôi đừng la em nữa mà. Em chỉ chạy ào ra tiệm may bà Theo, để bảo bà ấy dùng viền tím thay vì viền hồng thôi. Quần áo và nón của Marie là đủ cho những gì em cần. Chắc là mọi người đều nghĩ em là cô bán hàng. 
- Bữa tối xong lâu rồi,  em ở lại ngoài đó muộn quá đấy…
- Em biết, nhưng mà em trượt chân trên lề đường, bị trật cổ chân, đi đâu có được, phải lê chân vào một nhà hàng, và ngồi ở đấy đến khi đỡ hơn. Vì vậy mà về muộn đấy.
 
      The two girls sat in the window seat, looking out at the lights and the stream of hurrying vehicles in the avenue. The younger one cuddled down with her head in her sister's lap.
"We will have to marry some day," she said dreamily—"both of us. We have so much money that we will not be allowed to disappoint the public. Do you want me to tell you the kind of a man I could love, Sis?" 
"Go on, you scatterbrain," smiled the other.
"I could love a man with dark and kind blue eyes, who is gentle and respectful to poor girls, who is handsome and good and does not try to flirt. But I could love him only if he had an ambition, an object, some work to do in the world. I would not care how poor he was if I could help him build his way up. But, sister dear, the kind of man we always meet—the man who lives an idle life between society and his clubs—I could not love a man like that, even if his eyes were blue and he were ever so kind to poor girls whom he met in the street."
 
       Hai cô gái ngồi bên cửa sổ, trông ra những ánh đèn, những dòng xe cộ hối hả ngược xuôi trên đại lộ. Cô em nằm gối đầu lên đùi chị.
 - Rồi một ngày nào đó chúng ta sẽ lấy chồng - cô mơ màng nói - cả hai chị em chúng ta luôn ….Chúng ta có nhiều tiền nhưng chúng ta không được phép làm buồn lòng ai. Chị có muốn nghe em nói về mẫu đàn ông mà em có thể đem lòng yêu thương không hả chị?  
- Nói tiếp đi, hỡi con bé vô ý vô tứ kia - cô chị mỉm cười.
- Chị ạ, em có thể thích một người có đôi mắt xanh thẫm dịu dàng, hiền lành và biết tôn trọng những cô gái nghèo, một người có dung mạo đẹp, tốt bụng, không trây trúa cười cợt tán tỉnh. Nhưng em chỉ có thể yêu anh ấy khi anh ấy có hoài bão, có mục tiêu, và có việc làm trong thế giới này. Em không quan tâm đến chuyện anh ấy nghèo thế nào bởi em có thể giúp anh ấy gầy dựng sự nghiệp. Và chị thân yêu ơi, loại đàn ông mà chúng ta vẫn luôn gặp đó - lại sống một cuộc đời vô công rồi nghề giữa xã hội thượng lưu với những nhóm những hội của anh ta, em không thể yêu một người đàn ông như thế, kể cả khi đôi mắt anh ta có xanh, tấm lòng anh ta có tốt với những cô gái nghèo mà anh ta bắt gặp trên phố.
Hết
----------------------------------------------------------------------------------------------
NOTES
Hall bedroom (Am) :  Căn hộ một phòng - A one- room apartment
Remainder: phần còn lại, người còn lại  
To have driven to ignoble expedient: toan tính làm điều gì đó với thủ đoạn hèn hạ, đê tiện. 
Genteel poverty:  người nghèo mà cố sống phong lưu - trying to keep the style of a high social class, but with little money. ( Ở Việt Nam vẫn thường thấy bình luậnvề dạng người như thế : Làm ra vẻ thế thôi!)
 
The tribe of the Manhattans.
Một bộ lạc da đỏ sinh sống trên đảo cho đến khi nó được bán cho người Hà Lan vào năm 1626. Bây giờ Manhattan là một trong 5 quận của thành phố New York, có khu kinh doanh chính, trung tâm tài chính và nhà hát. Mahattan nguyên là một hòn đảo gần cửa sông Hudson tạo thành một phần của thành phố New York.
 
Nhân vật Chandler được hé lộ là người gốc da đỏ hoặc Hà Lan.
 
The Flatiron Building — A house on Broadway, the father of skyscrapers, built in 1902
Tòa nhà Flatiron - Một ngôi nhà ở Broadway, cha đẻ của những tòa nhà chọc trời, được xây dựng vào năm 1902. Niềm tự hào của người New York.
 
Madness of Manhattan (hay Manhattan Madness) (1916): Vở hài kịch nói về 
Steve O'Dare, một thanh niên người New York đến vùng Nevada để trở thành một anh chàng cowboy, trở về New York để bán vài con ngựa. Anh đã quấy rầy những người bạn của mình bằng những câu chuyện về cuộc sống sôi động ở miền Tây, do đó họ bày mưu lừa anh bằng một cuộc bắt cóc giả. Mặc dù Steve đã bị lừa bởi trò nghịch ngợm này, cuối cùng anh đã trở thành thù địch với những người bạn của mình. 

Fuss and Feathers (1918): Vở hài kịch câm của Mỹ: một cô gái trẻ đột ngột trở nên giàu có nhưng lại thiếu sự thanh nhã trong giao tiếp. Cô đã nhờ sự giúp đỡ của một người con trai bị truất quyền thừa kế của một gia đình giàu có.
 
Bàn luận đôi chút về nghệ thuật O. Henry
 
Nhìn qua: Henry dồn nén lời kể và tả đến mức tối thiểu trong khi xây dựng chân dung nhân vật truyện ngắn.
 
Nghệ thuật xây dựng nhân vật
 
Nhân vật chính Chandler, hóa ra là người Mỹ gốc Hà Lan, lộ ra trong câu tả gần cuối truyện (born and reared in the wigwams of the tribe of the Manhattans). Anh là kiến trúc sư trẻ còn đang tập sự, nhà văn chỉ nói “anh làm việc ở văn phòng KTS” là đủ. Anh còn rất non bản lĩnh nghề nghiệp, thể hiện ngay đầu truyện “cũng thực lòng tin rằng- mặc dù không dám nói ra điều này ở New York- là kiến trúc của tòa nhà Flatiron Building còn kém xa kiến trúc của nhà thờ lớn ở Milan”. Thực ra tòa nhà Flatiron chỉ là “niềm tự  hào” quá lố của người New York, anh làm chuyên môn anh biết nó không thể sánh bằng nhà thờ lớn Milan nước Ý nhưng không dám nói khác, nói trái với  người thành phố này.
 
Nhà văn hé lộ khéo tính cách Chandler: hâm mộ thành phố New York và người New York
 
Nhà văn nhắc tên các vở hài kịch Broadway như bổ túc cho chân dung nhân vật chính.
 
Xây dựng nhân vật kép
Hai chị em cô Marian rất khác nhau, cho thấy cô Marian là nhân vật đặc biệt khác thường. Cũng dòng dõi quí tộc nhà giàu nhưng cô em có tâm hồn bình dị (tương phản với với cô chị). Marian không dám nói thật với chị về bữa tiệc do chàng trai “quí tộc” Chandler vừa chiêu đãi (vì biết chị sẽ phản đối). Và đặc biệt ở lời tâm sự cuối chuyện, cô bộc lộ tình yêu lý tưởng của mình. Trong khi đó, anh Chandler cũng bồi hồi cảm thấy mình cần phải thay đổi ứng xử và tự tin cho xứng với cô Marian.
 
Tạo tình huống truyện độc đáo
 
Cuộc gặp gỡ tình cờ Chandler và Marian- cả hai nhân vật hiểu lầm nhau.
Nếu họ hiểu đúng về đối phương thì mối tình của họ sẽ rất đẹp và lãng mạn.
Vậy, nhà văn giúp họ giải tỏa ngộ nhận.
 
Đọc Lạc giữa phù hoa, ta bắt gặp một Chandler- Lucien Sardon của Balzac trong tiểu thuyết Vỡ mộng (Illusions perdues). Truyện miêu tả Lucien  Sardon chàng trai tỉnh lẻ lên Paris lập nghiệp, chen chân vào giai cấp quí tộc, tư sản… nhưng cuối cùng vỡ mộng. Chàng cuối cùng cũng tiếc rẻ sau ngộ nhận về mối tình chân thật.
 
Truyện ngắn O. Henry đã tạo ra một motif The O.Henry Ending, phần nhiều truyện bạn đọc đoán trước được kết cục nhưng vẫn bị lôi cuốn, thỉnh thoảng có cái kết bất ngờ, bâng khuâng, ra ngoài mong muốn bạn đọc. Đó là sự phong phú trong bút pháp O. Henry.
 
O. Henry đã nối tiếp truyền thống Văn học Pháp XIX, nhất là Honore De Balzac và Victor Hugo, nhân đạo và hài hước và nghệ thuật truyện ngắn Guy de Maupassant. Có thể nói O. Henry đã Mỹ hoá theo hướng những thành tựu đỉnh cao của nền văn học Pháp.
Hết
 

Lượt xem: 113

Quảng cáo

Email
Tiêu đề thông điệp
Nội dung thông điệp
 Security code
Hỗ trợ online
  • Tư vấn viên Ms. Thủy
  • Tư vấn viên Ms. Trang
  • Tư vấn viên Ms. Đào