CÂU CHUYỆN VĂN HỌC ĐẦU NĂM
MỘT SỐ KIẾN GIẢI VỀ BÀI THƠ QUAN HẢI
Phùng Hoài Ngọc
-------------------------------------
DẪN: QUAN HẢI của Nguyễn Trãi là một bài thơ có nhiều điểm thú vị về mặt ngữ nghĩa dịch thuật, nhưng thú vị nhất có lẽ nằm ở tựa bài thơ: QUAN HẢI. Vậy QUAN HẢI là gì?
HẢI là biển thì ai cũng biết. Thế nhưng QUAN có nhiều nghĩa, mà nếu không xác định được nghĩa nào, thì bản dịch có khi rất buồn cười. Có người hiểu QUAN là CỬA nên QUAN HẢI là CỬA BIỂN. Có người hiểu QUAN là ĐÓNG nên QUAN HẢI là ĐÓNG CỬA BIỂN. Có người hiểu QUAN là NGẮM nên QUAN HẢI là NGẮM BIỂN. Có người lại hiểu QUAN HẢI là CÔNG TÁC PHÒNG NGỰ TRÊN BIỂN (!) …
Nhưng TỰA THƠ chính là NỘI DUNG rút gọn của cả bài thơ. Hiểu TỰA THƠ khác nhau tất sẽ hiểu NỘI DUNG bài thơ khác nhau. Tuy nhiên đa số các dịch giả Việt Nam, dù hiểu tựa thơ khác nhau, nhưng lại phản ánh được tư tưởng của nội dung bài thơ khá thống nhất: CHỈ CÓ CHÍNH NGHĨA MỚI THẮNG ĐƯỢC HUNG TÀN!
Nếu coi QUAN HẢI là một kiệt tác của danh nhân văn hoá Nguyễn Trãi, thiết tưởng ngữ nghĩa của bài thơ nói chung, và tựa thơ nói riêng cũng nên xem lại. Đối với vấn đề  này, nhà nghiên cứu Phùng Hoài Ngọc đã đưa ra một số kiến giải, xin giới thiệu cùng quý vị độc giả gần xa . Trân trọng. TS VĨNH TUỆ
-------------------------------
Về bài thơ QUAN HẢI, hiện có hai bản tựa đề khác nhau trôi nổi trên mạng:
關海 (quan hải: đóng cửa biển)
观海( quan hải: quan sát biển, đứng ngắm biển)
Từ đó tồn tại hai kiểu dịch tựa đề khác nhau. Khi in ấn bản gốc nào đó, có thể do ai đó hiểu sai chính tả khi viết chữ "quan" đồng âm, khác chữ (關 và 观). Chúng ta biết chọn chữ nào đây ?
Vậy phải phân tích về nội dung thơ, xét xem tựa đề nào phù hợp nội dung hơn, ta sẽ chọn tựa đề đó.
Có nhiều chữ “quan” khác nhau, xin dẫn ra 2  chữ quan quen thuộc nhất với các nhóm /trường nghĩa khác nhau:
QUAN 1: (cửa, đóng cửa)
1.1 Nghĩa cụ thể, vật chất
Động từ:
Quan hải: 关海đóng cửa biển
Bế quan: 閉关 khép cửa biên giới
Danh từ: Hải quan 海关(nơi xét giấy tờ, hàng hóa, đóng thuế), như Quan thuế
Mục Nam quan (cửa ải nhìn về phương Nam), Quan tái/ Quan ải (cửa khẩu biên giới),
Quan môn (cửa quan)
Quan san: núi non và cửa ải (thế giới nói chung, hàm ý xuyên quốc gia, nghĩa cổ)
v.v…
1.2. Nghĩa trừu tượng, tinh thần, tình cảm, tâm trạng với cường độ mạnh
Quan ngại :关碍: e ngại vì bị cản trở (cô Lê Thu Hằng spokeswoman Bộ ngoại giao hay nói “quan ngại” về tình hình China gây hấn trên biển Đông với ý phản đối nhẹ nhàng.v.v…)
Quan liên 关联: liên quan, dính dáng (chữ này người Việt đọc viết ngược với Hán)
Quan tâm 关心 lưu ý, chăm sóc, giúp đỡ
Quan hoài 关懷: lo lắng chăm sóc giúp đỡ (mạnh, sâu sắc hơn quan tâm)
Quan thiết 1:关切 xem (ai, cái gì) là quan trọng (về ý thức, ý chí)
Quan thiết 2:关切 gần gũi quan tâm (về tình cảm)
Quan hệ:关系 mối liên hệ, liên lạc (như can hệ 干系)
* Nhân tiện, thử phân tích 1 động từ “quan tâm”: đóng, khoá, ngừng trái tim để dành cho/với ai đó (ví dụ: anh A hồi này rất quan tâm tới cô B: tức là, anh A hồi này khóa/dừng/tạm khép trái tim/tâm hồn với người khác, chỉ dành cho cô B. Tức là, anh A đã dành tình cảm và hành động cho/vì cô B.
QUAN 2: (nhìn, ngắm…)
Quan hải: : quan sát biển
Quan sát 观察 (nhìn tìm hiểu), quan khán 观看(nhìn thưởng thức)
Quan trắc 观测: đo đạc bằng mắt và dụng cụ
Kỳ quan 奇观: vật hiếm lạ quí
Giác quan 覺观
Quan điểm: 观点
Quan niệm: 观念
Thế giới quan:世介观
 
Hiện nay, bạn đọc đang băn khoăn giữa QUAN 1 hay QUAN 2, vậy cái nào là tựa đề của Nguyễn Trãi?
關海   hay là ?
Chọn một bản gốc:
樁木重重海浪前,
沉江鐵鎖亦徒然。
覆舟始信民猶水,
恃險難憑命在天。
禍福有媒非一日,
英雄遺恨幾千年。
乾坤今古無窮意,
卻在滄浪遠樹煙。
(câu 8 có dị bản: 卻在滄蒗遠樹煙)
Phiên âm:
 
QUAN HẢI
Thung mộc trùng trùng hải lãng tiền,
Trầm giang thiết toả diệc đồ nhiên.
Phúc chu thuỷ tín dân do thuỷ,
Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên.
Hoạ phúc hữu môi phi nhất nhật,
Anh hùng di hận kỉ thiên niên.
Kiền khôn kim cổ vô cùng ý,
Khước tại thương lang viễn thụ yên.

 
Dịch nghĩa
Cọc gỗ lớp lớp trồng trước sóng biển
Xích sắt cũng được trầm dưới nước để phong toả như thế
Thuyền có bị lật mới biết rằng dân chẳng khác gì nước
Cậy vào địa thế hiểm trở cũng khó bằng mệnh trời
Họa phúc đều có duyên do, đâu phải chỉ một ngày.
Anh hùng để lại mối hận nghìn năm
Xưa nay ý trời đất thì vô cùng tận
Lui về chốn cây cỏ s
ương khói xa xôi.
 
Bản dịch của nhóm Đào Duy Anh :
 
Lớp lớp rào lim ngăn sóng biển,
Khoá sông xích sắt cũng vầy thôi.
Lật thuyền mới rõ dân như nước,
Cậy hiểm khôn xoay mệnh ở trời.
Hoạ phúc gây mầm không một chốc,
Anh hùng để hận mấy trăm đời.
Vô cùng trời đất gương kim cổ,
Cây khói xa mù bát ngát khơi.


(Nguồn: Đào Duy Anh, Nguyễn Trãi toàn tập, NXB Khoa học xã hội, 1976)
 
Nhiều bản dịch khác chọn “xứ Thương Lang”: 滄蒗 (địa danh)
 
Bản dịch của NGUYỄN ĐẠI HOÀNG:
 
ĐỨNG TRƯỚC BIỂN
 
Cọc gỗ trùng trùng chắn biển khơi
Sông sâu lưới sắt bủa nơi nơi
Lật thuyền mới biết dân như nước
Cậy hiểm nào hay mệnh tại trời
Hoạ phúc ngọn nguồn đâu một lúc
Anh hùng để hận đến muôn đời
Chuyện trời đất cổ kim vô tận
Khói rừng xa suối biếc sương rơi…
 
Bài thơ QUAN HẢI của Nguyễn Trải tương truyền được ông làm ra, nhân khi đi qua công trình phòng thủ mà nhà Hồ đã xây dựng để chống giặc Minh xâm lược. Tuy chiến thuật này là giống với chiến thuật của các bậc tiền nhân- như Ngô Quyền chống quân Nam Hán, Lê Hoàn chống quân Tống, Trần Hưng Đạo chống Nguyên Mông- nhưng tiền nhân đại thắng, còn cha con Hồ Quý Ly đại bại.
 
Nhà Hồ cũng vẫn sử dụng hiểm địa, dùng cọc lim trồng ở cửa biển, xích sắt giăng ngầm đáy sông…nhưng lòng dân, niềm tin của dân bây giờ đã khác. Đây là giai đoạn nhà Hồ mới đoạt vương quyền nhân lúc nhà Trần suy thoái, nhưng lòng dân chưa theo nhà Hồ. Đó là lý do Nguyễn Trãi nói: “Phúc do thuỷ tín dân do thuỷ”.
 
Nguyễn Trãi viết “Phúc chu thuỷ tín dân do thuỷ” là dựa vào điển cố Tuân Tử, một triết gia nước Triệu (Trung Quốc, sống từ khoảng giữa thế kỷ 4 và 3 trước Công Nguyên). đã nói: “Dân do thủy dã, thủy năng tải chu, nhi năng phúc chu” (Dân cũng như nước, nước chở thuyền được mà cũng làm lật thuyền được).
 
Ta nên chọn tựa đề nào cho bài thơ thất ngôn bát cú?
 
Chỉ có 2/8 câu thơ mở đầu nói về việc “đóng cửa biển, khóa biển” (quan hải 關海). Thực ra phải dịch là “chặn biển” tức là hành động ngăn chặn quân xâm lược phương Bắc, phù hợp với hoàn cảnh nhà Hồ sắp mất vào nhà Minh xâm lược (nghĩa chung của “quan hải” là: nhà cầm quyền tuyên bố lệnh cấm tàu thuyền nước khác đi vào vùng biển chủ quyền của mình).
 
Tuy nhiên, phần chính bài thơ còn tới 6/8 câu thơ tả việc nhà thơ quan sát biển mà suy ngẫm về sức mạnh Nhân dân, về Mệnh trời, về anh hùng thất thế, và đặc biệt câu kết bài thi nhân tỏ vẻ thất vọng nhà Hồ, tỏ ý lui về chốn xa xôi hoang vắng ẩn mình.
 
Rút cục thì, “chặn biển” hay là “quan sát biển, ngắm biển”? Phải chọn một chứ không thể dung hòa.
 
Trộm nghĩ rằng, tựa đề phải là “quan sát biển” mà bản dịch “Đứng trước biển” của Nguyễn Đại Hoàng vừa chính xác vừa đậm tính văn chương.
 
Câu 8 cuối cùng cũng có hai dị bản: thương lãng hay Thương Lang ?
滄 thương: biển, màu xanh, rét lạnh,  浪 lãng: sóng nước. Thương lãng: sóng xanh/biếc
蒗 lang: tên đất (ví dụ 滄蒗:Thương Lang). 
“Lang” sinh ra từ chữ lãng thêm bộ thảo (cỏ 艹) trên đầu: , chỉ địa danh.
Hai dị bản câu cuối đều phù hợp bài thơ, chọn cái nào cũng được.
Giá như chữ Hán có qui định viết hoa như chữ la tinh thì điạ danh “Thương Lang” được biết ngay.
 
*CUỘC TRAO ĐỔI NGẮN VỚI NGUYỄN ĐẠI HOÀNG
Tôi đem bài thơ nói trên trao đổi với Nguyễn Đại Hoàng. Nguyễn quân bảo chỉ mạo muội trao đổi, góp ý với các bạn trẻ, các bạn sinh viên học sinh, những bạn vốn chưa học qua chữ Hán và các điển tích mà thôi.
> VỀ TỰA BÀI THƠ:
Khi được hỏi vì sao lại dịch QUAN HẢI là ĐỨNG TRƯỚC BIỂN, Nguyễn Quân luận rằng: 
 
Chữ HẢI là biển thì ai cũng biết.Thế nhưng chữ QUAN lại có nhiều nghĩa, mà nếu không xác định được nghĩa nào, thì bản dịch có khi rất buồn cười. Có người hiểu QUAN là CỬA nên dịch là CỬA BIỂN. Có người hiểu QUAN là ĐÓNG nên dịch là ĐÓNG CỬA BIỂN. Có người hiểu QUAN là NHÌN NGẮM, QUAN SÁT nên dịch là NGẮM BIỂN, thậm chí có người còn đi xa hơn khi dịch QUAN HẢI là CÔNG TÁC PHÒNG NGỰ TRÊN BIỂN (sic)! Theo tôi QUAN dịch là QUAN SÁT, NGẮM NHÌN là phù hợp. Nhưng nên hiểu : NGẮM bằng MẮT, và CẢM bằng TIM. Nói cách khác, đằng sau chữ QUAN hữu hình còn một chữ QUAN vô hình khác nữa. Và bởi không có một chữ QUAN thứ ba nào khác có thể thay thế cho 2 chữ QUAN trên. Nên cụm từ ĐỨNG TRƯỚC BIỂN là khả dĩ nhất để dịch tựa bài thơ QUAN HẢI. Đứng trước biển là để NGẮM và để NGHĨ. Chỉ vậy thôi!
 
> VỀ CÂU THƠ CUỐI :
卻在滄浪遠樹烟
Khước tại thương lang viễn thụ yên
Khi bàn về ý nghĩa câu thơ này, Nguyễn quân cho rằng : “thương lang” 滄浪 có mấy nghĩa sau đây :
1.Thương Lang : phần hạ lưu sông Hán (Trung Quốc).  Trong bài ca Ngư Phủ của Khuất Nguyên, có hai câu :

Thương Lang chi thủy thanh hề, khả dĩ trạc ngã anh
Thương Lang chi thủy trọc hề, khả dĩ trạc ngã túc.

Dòng nước Thương Lang trong ư? Ta có thể giặt giãi mũ
Dòng nước Thương Lang đục ư? Ta có thể rửa chân

Trong thi văn, Thương Lang thường dùng để chỉ nơi ẩn dật.
 
2.Thương lang: Nước xanh ( biếc). 
Trong bản dịch của mình, Nguyễn quân đã chọn thương lang với ý nghĩa là “nước biếc, suối biếc”.
Nguyễn quân cũng lưu ý:
Chữ YÊN trong câu thơ nói trên có nghĩa là sương, khói - chứ không phải là bình yên như nhiều bạn trẻ đã hiểu. Nhân tiện cũng nói thêm về câu thơ :英雄遺恨幾千年 - Anh hùng di hận kỷ thiên niên- thì chữ kỷ trong kỷ thiên niên (kỷ: vài ba, several) khác với chữ kỷ trong thiên niên kỷ (kỷ: giai đoạn, period)! Câu thơ nói trên cũng bị nhiều bạn trẻ hiểu đại khái là: anh hùng HẬN đến ngàn năm. Trong đó HẬN là động từ.
Nhưng thực ra phải hiểu là: dù là anh hùng, nhưng nếu làm sai, thì anh hùng BỊ hậu thế HẬN cả ngàn năm.  Nghĩa là ANH HÙNG BỊ HẬN chứ không phải ANH HÙNG HẬN đâu! Quả đúng vậy :英雄遺恨幾千年 - Anh hùng di hận kỷ thiên niên. Các bạn hãy xem chữ DI HẬN - 遺恨 thì rõ. Về mặt ngữ pháp thì DI ở đây là động từ, còn HẬN là danh từ! Anh hùng để hận đến muôn đời. Tôi hiểu vậy, không biết Phùng tiên sinh và quý vị thân hữu nghĩ sao? ….”
 
Tôi chưa kịp trả lời thì Nguyễn quân đã hẹn sẽ cùng tôi trở lại bài QUAN HẢI trong một dịp khác. Sâu xa và khúc chiết hơn. Ít nhất là sẽ luận về 2 câu kết, khi tôi toan lôi kéo Nguyễn quân quay trở lại câu thơ cuối, bằng cách buông lời đùa “khích bác” theo kiểu kiếm hiệp :   
卻在滄浪遠樹烟
Khước tại thương lang viễn thụ yên
Khói rừng xa suối biếc sương rơi….
“ Này các hạ! Viễn Thụ mà dịch là Rừng Xa nghe được đấy! Nhưng mà câu thơ dịch Khói rừng xa suối biếc sương rơi…. thì sao nghe có vẻ Thế Lữ, Lưu Trọng Lư thế nhỉ! Liệu có đúng ý cụ Nguyễn Trải không hả Nguyễn đại nhân …?
 
Nguyễn quân cũng chỉ cười trừ mà rằng: Đã hẹn rồi mà! Và nói thêm: Tôi sẽ tiếp tục trao đổi cùng Phùng tiên sinh, nếu tiên sinh đối được câu sau đây trong vòng 5 phút: 
Quan hải quan quan hải
….………………………..
Thôi thế thì thôi vậy, tôi đành hẹn lại quý vị thân hữu trong những bài viết sau vậy. Kính chúc quý vị thân hữu, các bạn trẻ gần xa một năm mới hạnh phúc, thành công (Đừng quên đối lại câu xuất nói trên của Nguyễn quân nhé!)
Trân trọng.
 
PHÙNG HOÀI NGỌC
Ngày mồng 9 Tết năm Kỷ Hợi
13/2/2019
 
 
 
 
 
 
 
 

Lượt xem: 208

Quảng cáo

Email
Tiêu đề thông điệp
Nội dung thông điệp
 Security code
Hỗ trợ online
  • Tư vấn viên Ms. Thủy
  • Tư vấn viên Ms. Trang
  • Tư vấn viên Ms. Đào